•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Ngày làm việc thứ 22, Kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội Khóa XIV: Quốc hội thông qua 5 dự án Luật

20/11/2018
Chiều ngày 19.11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển và Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ, Quốc hội làm việc tại Hội trường, biểu quyết thông qua 5 dự án Luật gồm: dự án Luật Đặc xá (sửa đổi); dự án Luật Trồng trọt; dự án Luật Chăn nuôi; dự án Luật Cảnh sát biển Việt Nam; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Bình biểu quyết thông qua các dự án luật

 

Luật Đặc xá (sửa đổi) được 92,99% tổng số ĐBQH có mặt tán thành thông qua. Luật Trồng trọt được 93,81% tổng số ĐBQH có mặt tán thành thông qua. Luật Chăn nuôi được 93,61% tổng số ĐBQH có mặt tán thành thông qua. Luật Cảnh sát biển Việt Nam được 96,29% tổng số ĐBQH có mặt tán thành thông qua. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học được 84,12% tổng số ĐBQH có mặt tán thành thông qua.

 

Không đặc xá đối với tội phá rối an ninh, chống phá cơ sở giam giữ

 

Luật Đặc xá (sửa đổi) gồm 6 chương, 39 Điều, quy định, Chủ tịch Nước xem xét, quyết định về đặc xá nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước. Chủ tịch Nước xem xét, quyết định đặc xá trong trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại của Nhà nước mà không phụ thuộc vào thời điểm quy định tại Khoản 1 Điều 5. Luật cũng quy định các trường hợp không được đề nghị đặc xá. Cụ thể, người có đủ điều kiện quy định tại Điều 11 của Luật này không được đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau như, bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố và một trong các tội quy định tại Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự. Bản án, phần bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác. Trường hợp trước đó đã được đặc xá; có từ 2 tiền án trở lên. Trường hợp khác do Chủ tịch Nước quyết định.

 

Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân

 

Luật Cảnh sát biển Việt Nam gồm 8 chương, 41 điều, quy định cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển. Cảnh sát biển Việt Nam có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế theo thẩm quyền. Về phạm vi hoạt động của cảnh sát biển Việt Nam.

 

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Cảnh sát biển

 

Luật nêu rõ, cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trong vùng biển Việt Nam để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này. Trong trường hợp vì mục đích nhân đạo, hòa bình, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, Cảnh sát biển Việt Nam được hoạt động ngoài vùng biển Việt Nam; khi hoạt động phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, thoả thuận quốc tế có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.

 

Mở rộng quyền tự chủ đại học

 

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đã quy định rõ điều kiện, yêu cầu thực hiện quyền tự chủ tại Khoản 2, Điều 32. Theo đó, mức độ tự chủ của cơ sở giáo dục đại học phụ thuộc vào việc đáp ứng đủ điều kiện tự chủ, những cơ sở chưa đáp ứng điều kiện tự chủ thì tiếp tục chịu sự quản lý chặt chẽ theo các quy định của Luật, đồng thời quy định trách nhiệm quản lý nhà nước trong quy hoạch và xác nhận tiêu chí các cơ sở giáo dục đại học, do đó sẽ giới hạn việc các trường đồng loạt tự chủ dẫn đến mất cân bằng cung – cầu nhân lực. Luật cũng quy định rõ nội hàm của các quyền tự chủ về học thuật trong hoạt động chuyên môn, tổ chức - nhân sự và tài chính - tài sản tại các khoản 3, 4, 5, Điều 32. Hầu hết các nội dung liên quan đến chuyên môn (như về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, nội dung, chương trình đào tạo, tổ chức và quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học…) đã được giao cho các trường tự chủ quyết định theo quy định của Luật hiện hành, trừ việc mở ngành đào tạo.

 

Luật mở rộng quyền tự chủ, cho phép các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng đủ điều kiện bảo đảm chất lượng và phù hợp nhu cầu thì được tự mở ngành đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học, chỉ trừ các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe, đào tạo giáo viên và an ninh, quốc phòng. Quy định rõ về trách nhiệm giải trình, bao gồm cả nội dung, hình thức và đối tượng của hoạt động giải trình; quy định một số chế tài cụ thể để xử lý đối tượng không thực hiện cam kết bảo đảm chất lượng đào tạo. Mức độ và tính chất xử lý vi phạm được quy định tại các văn bản dưới luật.

 

Về học phí, cơ sở giáo dục đại học công lập xác định mức thu học phí như sau: cơ sở giáo dục đại học đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 32 của Luật này và tự bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên thì được tự chủ xác định mức thu học phí. Việc xác định mức thu học phí phải căn cứ vào định mức kinh tế - kỹ thuật theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo. Cơ sở giáo dục đại học tư thục được tự chủ quyết định mức thu học phí. Mức thu dịch vụ tuyển sinh và các khoản thu dịch vụ khác được xác định trên nguyên tắc tính đủ chi phí hợp lý thực tế phát sinh. Cơ sở giáo dục đại học phải công bố công khai chi phí đào tạo, mức thu học phí, mức thu dịch vụ tuyển sinh và các khoản thu dịch vụ khác cho lộ trình cả khoá học và từng năm học cùng với thông báo tuyển sinh và trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học; có trách nhiệm trích một phần nguồn thu học phí để hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

 

(Theo http://daibieunhandan.vn)