•  
     
  •  
     
  •  
     
LIÊN KẾT WEBSITE

Hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng ngân hàng

21/10/2019
Trong thời buổi hội nhập và phát triển kinh tế việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật về thế chấp tài sản nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng là việc làm cần thiết. Hiện nay, hầu hết các văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự, kinh tế ở nước ta vẫn còn tồn tại những yếu tố phi thị trường và chưa phù hợp với thực tiễn đời sống.

Bên cạnh đó, việc áp dụng các văn bản pháp luật về các biện pháp bảo đảm, trong đó có thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay nói riêng vẫn còn một số vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Bài viết dưới đây tác giả đi sâu làm rõ các vấn đề cần hoàn thiện và hướng hoàn thiện đối với thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng ngân hàng.


Để hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật về thế chấp tài sản cần xác định pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng phải được hoàn thiện trong mối liên hệ với cả hệ thống pháp luật. Bởi tính thống nhất của hệ thống pháp luật là yêu cầu nội tại và bắt buộc của mục tiêu điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước. Pháp luật về bảo đảm tiền vay nói chung và thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng nói riêng là một bộ phận của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Do đó, pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng là một bộ phận của pháp luật về giao dịch bảo đảm nói chung. Vì thế nó phải được xây dựng trên cơ sở nền tảng của Bộ luật dân sự (BLDS) và phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.


Thứ nhất, nội dung quy định về thế chấp tài sản


Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khắc phục bất cập của BLDS năm 2005 về việc chỉ cho phép một người được thế chấp tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ cho chính mình. Quy định như vậy là công nhận việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên thứ ba một cách chính thống, thể hiện nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ dân sự. Trước đây đối với một tài sản, một người chỉ dùng bảo đảm cho nghĩa vụ của minh còn giờ đây, người đó có thể khai thác giá trị của tài sản một cách tối đa, tùy ý và đa dạng - tự nguyện đem tài sản của mình đi thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ cho một người khác.


Việc sửa đổi BLDS nói trên đã giải thoát cho bên bảo đảm và các tổ chức tín dụng (TCTD) trong Hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác sẽ không còn phải lo về việc Hợp đồng bị vô hiệu do hình thức. Tuy nhiên, điều này vô hình chung cũng đặt ra một vấn đề vô cùng quan trọng đó là làm thế nào để bảo vệ bên bảo đảm, nhất là khi bên bảo đảm đưa tài sản của mình vào bảo đảm cho khoản vay của một bên khác. Trong nhiều trường hợp, bên bảo đảm không được chuẩn bị đầy đủ kiến thức và hiểu biết khi tham gia vào quan hệ tín dụng và bảo đảm, nhiều khi chỉ là do cả tin, cho bạn bè, họ hàng “mượn” tài sản khi tài sản đang nhàn rỗi không sử dụng vào việc gì, chỉ đến khi tài sản bảo đảm bị xử lý do bên vay không trả được nợ thì lúc đó mới biết hậu quả pháp lý của việc bảo đảm của mình. Bộ luật Dân sự nên có quy định để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên bảo đảm là cá nhân, chẳng hạn như công nhận quyền của bên bảo đảm được yêu cầu bên vay thực hiện hoàn trả cho mình trong phạm vi giá trị tài sản bảo đảm đã bị xử lý hay hoàn trả số tiền mà bên bảo đảm đã trả cho ngân hàng trong trường hợp bên bảo đảm nộp tiền để rút lại tài sản bảo đảm.


Thực tế Hợp đồng thế chấp bao gồm rất nhiều điều khoản, khá phức tạp, chứa nhiều quy định và nó thường do các TCTD đưa ra; bên bảo đảm thường có rất ít cơ hội được thảo luận về các điều khoản trong Hợp đồng nên trong quan hệ bảo đảm tín dụng này, bên bảo đảm thường là bên yếu thế hơn. Bên cạnh đó, đối với các Hợp đồng đặc biệt mà tài sản bảo đảm có giá trị lớn như Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì pháp luật cũng quy định các Hợp đồng này bắt buộc phải được công chứng. Tuy nhiên, có thể thấy khách hàng thường xuyên của các Văn phòng công chứng, các Công chứng viên không phải là bên bảo đảm mà là bên nhận bảo đảm nên sẽ dễ hiểu nếu các Văn phòng công chứng, các Công chứng viên có sự thiên vị, ưu ái hơn cho các TCTD làm cho bên bảo đảm tiếp tục phải nhận thiệt thòi về mình.


Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo đảm, nhất là khi tài sản bảo đảm là tài sản có giá trị lớn, có ý nghĩa quan trọng với cuộc sống của bên bảo đảm thì phải có các quy định chặt chẽ về nghĩa vụ của các TCTD, ví dụ như phải giải thích đầy đủ Hợp đồng cho bên bảo đảm, và phải có sự đào tạo, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ Công chứng viên để có thể chắc chắn bên bảo đảm hiểu, chí ít là hậu quả pháp lý của việc ký kết Hợp đồng. Chỉ khi bên bảo đảm hiểu được hậu quả mà họ có thể phải gánh chịu khi ký kết hợp đồng (một trong số đó là sẽ phải giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng để xử lý) thì việc ký kết hợp đồng mới thật sự tự nguyện. Hơn nữa, pháp luật cần phải có chế tài mạnh khi phát hiện có việc câu kết giữa Văn phòng công chứng, Công chứng viên với một bên trong Hợp đồng, nhất là Hợp đồng bảo đảm.


Thứ hai, về quy định biện pháp bảo đảm bằng vật quyền và biện pháp bảo đảm bằng trái quyền


Sự không thống nhất và nhầm lẫn trong cách hiểu về quan hệ “bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất” hay là “thế chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho người khác” là do quy định của pháp luật đã không phản ánh đúng bản chất pháp lý của mối quan hệ đảm bảo.
Trong quan hệ hợp đồng, người có quyền thường đòi hỏi một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Biện pháp bảo đảm này có thể là biện pháp bảo đảm đối vật hoặc biện pháp bảo đảm đối nhân. Hai biện pháp bảo đảm này dựa trên hai quyền tài sản mà một người có thể có được, tương ứng đó là quyền đối vật và quyền đối nhân. Như vậy có thể xác định, thế chấp là một dạng của bảo đảm đối vật vì nó quy định cho người có quyền (người nhận thế chấp) có thể xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản vay của mình, trong trường hợp đến hạn mà con nợ không hoàn thành nghĩa vụ. Ở đây đối tượng của quyền chính là tài sản thế chấp. Điều đó giúp phân biệt thế chấp tài sản với biện pháp bảo đảm đối nhân, ví dụ là bảo lãnh, vì trong trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm đối nhân thì người có quyền (người nhận bảo lãnh) chỉ được phép yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho con nợ, mà không được thi hành quyền của mình trên bất kỳ một tài sản cụ thể nào của người bảo lãnh.


Việc pháp luật không quy định và không phân loại các biện pháp bảo đảm thành bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân sẽ dễ dẫn tới những nhầm lẫn trong cách hiểu về quan hệ bảo đảm, ví dụ như nhầm lẫn giữa bảo lãnh và thế chấp. Vì vậy, các quy định cho phép phân biệt rạch ròi giữa bảo đảm bằng vật quyền và bảo đám bằng trái quyền sẽ cần phải được bổ sung. Để thực hiện điều này, các nhà làm luật có thể quy định theo hướng đưa khái niệm “vật quyền” và xây dựng “vật quyền” thành 01 chương của BLDS, từ đó sẽ tạo cơ sở pháp lý cho bảo đảm nghĩa vụ bằng vật quyền trong các biện pháp bảo đảm. Bên cạnh đó là việc bổ sung các quyền ưu tiên thanh toán và quyền truy đòi phù hợp với “vật quyền”.


Thứ ba, về quy định hình thức của hợp đồng thế chấp tài sản


Đối với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay thì quy định về hình thức giao dịch dân sự vẫn là cần thiết. Tuy nhiên, cần có sự thay đổi để phù hợp với nguyên tắc tự do ý chí, tự do giao kết hợp đồng của các bên chủ thể. Khi các bên đã hoàn toàn nhất trí thỏa thuận với nhau về nội dung của hợp đồng thì hai bên và tất cả mọi người phải tôn trọng các thỏa thuận đó.
Đối với một số hợp đồng có quy định các điều kiện về hình thức, có thể suy đoán rằng, nếu các bên chưa hoàn thành các điều kiện đó thì có nghĩa là các bên chưa hoàn toàn thể hiện ý chí cam kết của mình với hợp đồng và hợp đồng chưa có hiệu lực. Lúc này, cần xem xét việc thực hiện hợp đồng trên thực tế và sẽ xảy ra các trường hợp sau:


Trường hợp thứ nhất, các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trong hợp đồng thế chấp (các bên đã giao tiền và nhận tài sản thế chấp, ký hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản). Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau, nên hợp đồng thế chấp tài sản có vi phạm về hình thức. Trong trường hợp này, các bên phải có nghĩa vụ hoàn thành đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng với nhau và pháp luật sẽ bảo vệ bên có quyền khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, như đối với một hợp đồng đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hình thức. Trường hợp một bên có yêu cầu công nhận hợp đồng thì Tòa án công nhận hợp đồng.


Trường hợp thứ hai, các bên chưa thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng và có vi phạm về hình thức của hợp đồng như trường hợp thứ nhất thì Tòa án cho phép các bên một thời gian để hoàn thiện hình thức của hợp đồng và thực hiện nốt phần nghĩa vụ. Nếu có bên không thực hiện và có yêu cầu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Thay đổi các quy định của pháp luật theo hướng như trên sẽ bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể xác lập quan hệ hợp đồng, đồng thời vấn bảo đảm các nguyên tắc chung của quan hệ dân sự là tự do thỏa thuận, tự do ý chí.


Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm


Đối với một số hợp đồng thế chấp nhất định có quy định bắt buộc phải đăng ký mới được coi là hợp pháp. Đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm đáp ứng về mặt hình thức của hợp đồng, xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, không ảnh hưởng đến mặt nội dung của hợp đồng mà bản chất là sự thỏa thuận của các bên đã được hình thành từ trước thời điểm đăng ký. Không có việc đăng ký giao dịch bảo đảm thì các bên vẫn đã thống nhất ý chí với nhau, đã và đang thực hiện nghĩa vụ với nhau. Điều đó có nghĩa là, dù có đăng ký giao dịch bảo đảm hay không thì khi đến hạn mà bên thực hiện nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bên có quyền vẫn có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của mình theo như hợp đồng thế chấp đã ký kết.


Đăng ký giao dịch bảo đảm lúc này chỉ giúp tạo ra hiệu lực đối kháng với bên thứ ba, tức là ghi nhận một vật quyền của bên nhận bảo đảm đối với tất cả những chủ thể có quyền còn lại. Nếu không đăng ký giao dịch bảo đảm, một chủ nợ sẽ bị mất quyền ưu tiên đối với tài sản bảo đảm và trở nên yếu thế hơn so với các chủ nợ khác có đăng ký giao dịch bảo đảm. Cần phân biệt sự khác nhau này về hiệu lực của hợp đồng giữa hai bên trong giao dịch và hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Đăng ký giao dịch bảo đảm giúp công khai hóa quyền lợi của các bên, cùng với đó là ý nghĩa trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.


Đối với thế chấp tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm thậm chí là phương thức duy nhất giúp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Nhờ có đăng ký giao dịch bảo đảm, các TCTD cũng như các thành phần kinh tế khác có thể tìm hiểu hay kiểm tra thông tin về tài sản mà mình đang quan tâm, khi yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp. Từ đó chủ nợ có thể thực hiện được các quyền ưu tiên của mình đối với tài sản. Trong một số trường hợp, đăng ký giao dịch bảo đảm còn là điều kiện bắt buộc để hợp đồng thế chấp có hiệu lực đồng thời đó cũng là biện pháp bảo vệ cho người thứ ba ngay tình.


Đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế chấp tài sản nói riêng và các giao dịch bảo đảm nói chung. Tuy nhiên, các các quy phạm pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định tản mạn tại nhiều luật và văn bản dưới luật, gây khó khăn cho công tác đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo quan điểm cá nhân tác giả, nên có sự thay đổi về đăng ký giao dịch bảo đảm như:


Một là, cần thiết phải pháp điển hóa thành Luật giao dịch bảo đảm. Luật này sẽ thống nhất các quy định tản mạn tại các văn bản pháp luật khác nhau về một mối, giúp thuận tiện hơn trong việc nắm bắt. Hơn nữa, việc ban hành Luật đăng ký giao dịch bảo đảm thay vì các Nghị định hướng dẫn thi hành như hiện nay cũng phản ánh đúng tầm quan trọng của quan hệ bảo đảm trong xã hội, một quan hệ đầy phức tạp, liên quan đến nhiều thành phần quan trọng cũng như các tài sản có giá trị lớn trong nền kinh tế.


Hai là, cần nâng cao sự công khai, minh bạch, dễ tiếp cận đối với thông tin về các giao dịch bảo đảm được đăng ký để người dân, doanh nghiệp có thể dễ dàng tra cứu tình trạng pháp lý của tài sản đang được quan tâm. Từ đó, cần cải thiện việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ phụ trách việc đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc cập nhật biến động của tài sản bảo đảm lên Cổng thông tin chung phải được thực hiện ngay sau thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm. Có như thế mới thể hiện trọn vẹn được một trong các ý nghĩa quan trọng của việc đăng ký giao dịch bảo đảm là tạo được hiệu lực đối kháng với bên thứ ba.

 

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng


Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay nguồn vốn chủ yếu được huy động từ nguồn vốn vay ngân hàng. Vì thế quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, phương thức xử lý tài sản đảm bảo là điểm mấu chốt để đảm bảo tính công khai, khách quan của việc xử lý tài sản. Tuy nhiên, thực tế việc xử lý tài sản bảo đảm của TCTD vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Để giải quyết được những khó khăn, vướng mắc đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật như sau:


Một là, phải quy định rõ các đặc quyền gắn liền với vật quyền bảo đảm. Đó là các quyền đeo đuổi tài sản, quyền ưu tiên lấy nợ trên tài sản của bất kì một chủ nợ nào. Các bên sẽ tự do thỏa thuận phương thức xử lý tài sản bảo đảm nếu không đạt được thỏa thuận, quyền xử lý sẽ thuộc về chủ nợ. Pháp luật cần tạo cơ sở pháp lý cho các TCTD xử lý tài sản, ví dụ như quy định về việc thực hiện phương thức bán, chuyển nhượng tài sản của TCTD để thu hồi nợ.


Hai là, để bảo đảm cho việc thu giữ tài sản được chính danh, hợp lý, bảo đảm quyền cho các TCTD và đồng thời bảo vệ được quyền cho bên bảo đảm, tác giả cho rằng nên hạn chế quyền thu giữ của các TCTD. Các TCTD chỉ có quyền thu giữ tài sản bảo đảm trong trường hợp không liên lạc được với bên bảo đảm, khó khăn trong quá trình làm việc với bên bảo đảm để thỏa thuận phương thức xử lý tài sản thế chấp và tài sản bị thu giữ là bất động sản không có ai sinh sống trên đất. Còn nếu như khi các TCTD thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm không đồng ý thì đã dẫn đến tranh chấp hợp đồng thì tranh chấp này phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, TCTD phải yêu cầu Tòa án giải quyết nếu muốn xử lý tài sản thế chấp chứ không được thực hiện biện pháp cưỡng chế thu giữ tài sản như một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.


Việc hạn chế quyền thu giữ của các TCTD cũng giúp bảo vệ tính chính danh và hợp lý khi chính quyền địa phương hỗ trợ các TCTD thu giữ tài sản, đó là khi TCTD muốn xử lý tài sản mà không liên hệ được với bên bảo đảm, tài sản không ai quản lý, ví dụ như tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nhưng thực tế không ai sinh sống trên đất và khai thác hoa lợi từ quyền sử dụng đất, thì các TCTD có thể xác minh ở chính quyền địa phương về hiện trạng đất và phối hợp với chính quyền địa phương thu giữ tài sản thế chấp này để bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thay vì phải khởi kiện ra Tòa án trong khi không rõ địa chỉ của bên bảo đảm dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài và việc xử lý tài sản không được kịp thời và không hiệu quả.
Ba là, cần đưa ra các quy định cụ thể và rõ ràng liên quan đến nghĩa vụ thông báo của bên nhận bảo đảm đối với bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác. Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trừ trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng còn về nguyên tắc “trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác”. Như vậy, cần có sự hướng dẫn thế nào là “thời hạn hợp lý”, chi tiết hơn là “thời hạn hợp lý” đối với tài sản là động sản và tài sản là bất động sản tương ứng. Việc quy định rõ ràng và cụ thể sẽ giúp các TCTD chủ động hơn trong việc xử lý tài sản bảo đảm.


Bốn là, về vấn đề định giá tài sản bảo đảm tại Khoản 2, Điều 306 BLDS đặt ra yêu cầu “việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường”. Đây là một yêu cầu phù hợp nhằm tránh việc tài sản bảo đảm được định giá dưới mức giá thị trường (nhất là trong trường hợp bên nhận bảo đảm tự bán tài sản bảo đảm để xử lý) làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bảo đảm. Tuy nhiên, Điều 306 chưa nêu rõ yêu cầu này có áp dụng cho trường hợp bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hay không, nhất là khi mức giá thỏa thuận rõ ràng thấp hơn mức giá thị trường của tài sản bảo đảm? Hơn nữa, khoản 3, Điều 306 chỉ nêu chế tài bồi thường thiệt hại áp dụng cho hành vi vi phạm của tổ chức định giá trong quá trình định giá tài sản, nên có thể hiểu là yêu cầu định giá phù hợp với giá thị trường chỉ áp dụng cho việc định giá thông qua tổ chức định giá hay không? Thiết nghĩ, nên tiếp cận quy định này theo tinh thần của điểm c, khoản 3, Điều 104, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đó là, Tòa án chỉ can thiệp định giá tài sản trong trường hợp “các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá”.


Năm là, về thứ tự ưu tiên thanh toán tài sản bảo đảm. Trên thực tế, có trường hợp khi TCTD xử lý tài sản bảo đảm, chủ nợ có chi phí đóng góp hình thành tài sản bảo đảm (như bên xây dựng công trình, bên cung cấp vật tư vật liệu xây dựng cho công trình, …) đề nghị được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản đảm bảo. Với trường hợp này, một số Tòa án đã có quan điểm xác định TCTD được ưu tiên thanh toán trước, ngược lại một số Tòa án khác cũng có quan điểm xác định chủ nợ có chi phí đóng góp hình thành lên tài sản đảm bảo được ưu tiên thanh toán trước. BLDS năm 2015 hiện chưa quy định rõ về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa TCTD và chủ nợ có chi phí đóng góp hình thành lên tài sản đảm bảo.


Bên cạnh đó, theo Điều 372 BLDS năm 2015, một trong những căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự là “nghĩa vụ dân sự được bù trừ”. Tuy nhiên, hiện chưa rõ thứ tự ưu tiên giữa quyền bù trừ nghĩa vụ dân sự và quyền phát sinh dưới giao dịch bảo đảm. Vì vậy, để đảm bảo pháp luật được áp dụng thống nhất, cần quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận tài sản đảm bảo với chủ nợ có chi phí đóng góp hình thành tài sản đảm bảo, giữa bên nhận bảo đảm với bên được bù trừ nghĩa vụ và các chủ thể khác có quyền đối với tài sản.


Pháp luật về thế chấp tài sản là một bộ phận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản ở nước ta. tổ chức tín dụng. Vì thế, xây dựng và hoàn thiện pháp luật là cơ sở quan trọng để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi hợp pháp của các bên có liên quan trong quan hệ thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng./.

 

Ths. Nguyễn Văn Điền, Viện KSND thị xã Sơn Tây, Hà Nội


Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật dân sự năm 2005, năm 2015, NXB Lao động.
2 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
3. Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

 

(Theo http://moj.gov.vn)